Nói đến cụ Chánh Năm (cụ Ðinh Văn Năm) thì không riêng gì người Thức Hóa, mà đại đa số giáo dân Bùi Chu và hàng giáo phẩm: Gám Mục, Linh Mục cùng các Tu sỹ đều đã từng nghe biết về “con người đạo đức” ấy.
Xuất thân từ một gia đình công giáo đạo đức, thân phụ của cụ là cụ Trùm Ðê, một bậc vị vọng mọi người trong làng đều nể trọng. Cụ có một người anh đi tu Dòng, suốt đời sống khó nghèo. Thời Pháp thuộc, cụ làm Phó Lý, sau đi Trung Linh dậy học. Năm 1945, Việt Minh nắm chính quyền, cụ được mời và nhận làm Phó Chủ Tịch Huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Ðịnh. Năm 1949, quân đội Pháp hành quân đánh đuổi Việt Minh, rồi trang bị vũ khí cho các làng công giáo. Các toán Nghĩa Dũng quân được huấn luyện tại khu an toàn Phát Diệm dưới sự lãnh đạo, tổ chức của Linh Mục Hoàng Quỳnh. Huấn luyện xong, các toàn trở về làng mình huấn luyện lại cho dân làng chống Việt Minh. Khi thấy tình hình ổn định, Thủ Hiến Bắc Việt đã tách ra từ Tỉnh Nam Ðịnh Phủ Xuân Trường, huyện Trực Ninh, Huyện Hải Hậu và Huyện Giao Thủy để lập thành Tình Bùi Chu. Tỉnh Lỵ đặt tại thị xã Bùi Chu. Vị Tỉnh Trưởng tiên khởi của Bùi Chu là ông Châu Xuân Phan. Cụ Ðinh Văn Năm được mời nhận chức Phó Tỉnh Trưởng và cụ tại chức cho đến năm 1954 khi được lệnh bỏ Bùi Chu rút về Hà Nội.
Suốt thời gian 5 năm trong cương vị Phó Tỉnh Trưởng Bùi Chu, cụ là một viên chức đạo đức, thanh liêm, thương dân một cách đặc biệt, can đảm, và luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm. Câu chuyện sau đây nói lên lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của cụ vẫn in đậm trong ký ức kẻ viết bài này với sự ngưỡng mộ đặc biệt:
Vào buổi sáng một ngày cuối tháng 12 năm 1953, cụ về thăm Ðồn Thức Hóa - cũng là làng Thức Hóa bằng trực thăng. Cụ hỏi han, khích lệ tinh thần, an ủi lính giữ đồn. Sau đó, cụ ghé chỗ này đến chỗ kia thăm viếng bà con dân làng mãi cho đến chiều. Gặp đang trong thời kỳ mặt trận “Pháp Việt” ở giai đoạn khốc liệt, có lẽ vì thế mà tỉnh đã không thể đem trực thăng đến đón cụ buổi chiều. Nhưng vì tinh thần trách nhiệm và can đảm, nên khoảng 5 giờ chiều, cụ quyết định đi bộ về tỉnh. Từ đồn Thức Hóa đến đồn Nam Ðiền là gần nhất cũng trên 10 cây số, và phải đi ngang qua các làng do Việt Minh kiểm soát. Thế nên, mọi người có mặt với cụ lúc đó, kể cả các linh mục, đều hết lòng can ngăn vì thấy rất nguy hiểm cho tính mạng của cụ và hoặc còn có thể bị Việt Minh bắt giữ. Thế nhưng, cụ nhất quyết trở về tỉnh. Cụ nói cụ tin tưởng và trao phó mọi sự vào quan phòng của Chúa. Mọi người chỉ còn biết dõi nhìn theo bóng dáng cụ trên đường lộ trong âu lo cho đến khi khuất dạng. Và đúng như thế, Chúa đã che chở để cụ về đến nơi đến chốn bình an. Niềm tin phó thác vào Chúa với tấm gương can đảm của cụ đã in sâu đậm vào tâm khảm nhiều người, trong đó có tôi.
Di cư vào Nam, với uy tín sẵn có của cụ, các “đấng bậc” đã nhờ cậy, trao cho cụ trách nhiệm xây cất một số nhà thờ, trường học, tu viện, kể cả chủng viện. Cụ đã hoàn thành mọi việc một cách tốt đẹp. Ðến khi tuổi hạc đã cao, cụ dành thời giờ viết báo, sách đạo, làm việc bác ái và hàng ngày tham dự thánh lễ.
Nhiều người biết rõ: trước khi phục vụ Chính Quyền Quốc Gia, cụ đã một thời làm việc với Việt Minh (Cộng Sản), nên khi Cộng Sản chiếm Sàigòn, mọi người thân thuộc đều khuyên cụ nên lẩn tránh đi nơi nào đó chứ không chắc sẽ bị bắt...trả thù. Lại một lần nữa cụ tin tưởng phó thác vào an bài của Chúa quyền năng. Ngày 30 tháng 4 – 1975, cụ bình thản ở nhà trong vui vẻ đang khi ai ai trong gia đình cũng đều bồn chồn bất ổn vì lo lắng cho số phận tương lai của mình. Riêng cụ, Chúa đã gìn giữ đời sống cụ an bình cho đến khi cụ từ trần năm 2007.
Cụ Ðinh Văn Năm sinh năm 1910 và từ trần năm 2007, đại thọ 97 tuổi. Thánh lễ An Táng Tiễn Ðưa cụ do Ðức Giám Mục Nguyễn Ngọc Diệp giáo phận Vĩnh Long chủ tế, có hiện diện của Ðức Hồng Y Phạm Minh Mẫn Tổng Giám Mục Sàigòn và một số các Ðức Giám Mục khác cùng đông đảo hàng Linh Mục, Tu Sỹ đến từ nhiều giáo phận giáo xứ. Ðược biết ngày nay ở Việt Nam, việc cử hành Thánh Lễ An Táng đồng tế chỉ dành cho phụ mẫu của các linh mục mà thôi. Nhưng cụ Ðinh Văn Năm không nằm trong trường hợp nói trên vì không ai trong gia đình cụ có ơn chọn vào hàng “đấng bậc”. Tuy nhiên, theo tâm sự của một số “đấng bậc” bày tỏ, thì cụ Ðinh Văn Năm rất xứng đáng lãnh nhận các lễ nghi trọng thể đạo đời an táng cụ vì khi còn sinh thời cụ đã âm thầm cống hiến cho Giáo Hội bao là công sức và tài lực. Ðể tìm hiểu thêm về “công đức” của cụ hiến cho Giáo Hội, tôi đã có liên lạc với người trong gia đình, nhưng ai cũng đều nói là “không biết gì hết”, ngoại trừ họ được cụ khuyên bảo nhắc nhở hãy cố gắng thực hành đức yêu thương và công bằng bác ái thôi! Như vậy, chỉ có thể suy hiểu rằng cụ đã làm công việc bác ái, xây dựng nước Cha trị đến trên đời này một cách âm thầm khiêm tốn...mà chỉ có hàng Giáo Quyền, Giáo Sỹ “hưởng nhận” mới biết và thấy. Và các ngài đã đến cám ơn cụ, đồng thời tiễn đưa cụ về Nhà Cha trong giờ phút cuối cùng trần thế.
Cụ ly trần, nhưng gương sống của cụ vần sáng và dọi chiếu nơi người con dân Thức Hóa. Thiển nghĩ, trong thời buổi bây giờ có một người như cụ Ðinh Văn Năm thật hiếm hoi: một người phục vụ tha nhân bằng tinh thần trách nhiệm công giáo. Ðược thế phải là do đức Tin, Cậy và Mến Chúa thúc đẩy trong đời sống thực tế. Hy vọng tôi sẽ không quá hàm hồ để nói rằng “Cụ Ðinh Văn Năm là một nhân chứng đức Tin của Chúa trong thời đại ngày nay” vậy. Tôi cũng vững tin rằng giờ đây linh hồn cụ đang hưởng phúc bình an trong Chúa – bình an của Thầy cho các con.
Ðinh Kim Sơn